15.11.14
22.8.14
Cái giận
Đây là những dòng chữ tùy duyên gõ lại từ năm 2012, gọi là
tùy bút về giận. Hồi đó tôi có chia sẻ trên Văn hóa Phật giáo online. Năm nay,
nhân Vô Ưu đăng bài tùy bút này trên báo giấy số 54, mùa Vu Lan, với tựa đề
Chuyện về cái giận, nên tôi xin chia sẻ lại ở đây để mọi người cùng đọc. Với
các bạn thân quen trong lớp học thiền, thì dòng chữ này quen và nhàm lắm rồi.
Nhưng đối với những bạn đọc mới, bàn về cái giận cũng có cái hay, nên chia sẻ lại
cho vui vậy. Nói đến giận, Đức Phật đã dạy chúng ta rồi:
Nó mắng tôi, đánh tôi
Nó thắng tôi, cướp tôi.
Ai ôm hiềm hận ấy,
Hận thù không thể nguôi.
Nó thắng tôi, đánh tôi
Nó thắng tôi, cướp tôi.
Không ôm hiềm hận ấy,
Hận thù được tự nguôi.
Với hận diệt hận thù,
Đời này không có được.
Không hận thù diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu. (Kinh Pháp cú số 3, 4, 5)
Và Đức Phật dạy thêm:
Lấy không giận thắng giận,
Lấy thiện thắng không thiện,
Lấy thí thắng xan tham,
Lấy chơn thắng hư ngụy. (Kinh Pháp cú số 223)
Lửa nào bằng lửa tham!
Chấp nào bằng sân hận!
Lưới nào bằng lưới si!
Sông nào bằng sông ái! (Kinh Pháp cú số 251)
Gieo khổ đau cho người,
Mong cầu lạc cho mình,
Bị hận thù buộc ràng,
Không sao thoát hận thù. (Kinh Pháp cú số 291)
Biết rằng thực hành được như lời đức Phật dạy là khó lắm. Mà
học lời Phật dạy về sân giận để có thể nhìn lại một chút như thế này, như một bạn
trẻ chia sẻ, là quý lắm rồi:
Đấy! Sân giận đấy! Từ khi bắt đầu đến lúc kết thúc có giây
phút nào thỏa mãn, hạnh phúc, đẹp lòng mọi người không? Hay là ấm ức, bêu rếu,
lườm nguýt, mỉa mai nhau... Giận nhau làm gì cho mệt mà xấu gái đi, chả ai thèm
yêu.
Vâng, thay đổi tập tính từ tốt đến xấu thì dễ, còn từ xấu
thành tốt thì khó mà cũng ít người chịu nhìn thẳng vào cái Xấu của mình. Thế
nhưng đời sống an lạc hay không thì phụ thuộc vào khả năng biến đổi của bản
thân, không ai chuyển hộ được. Đối với những người hay nóng tính như mình đây
thì tập từng chút một, tập dần dần, đừng có “chưa đi đã chạy”, mà cũng đừng có
nói suông. (Hanh Nguyen, HS 12)
Chia sẻ lại ở đây, có 2 chỗ lỗi cần chỉnh lại chút xíu. Một
là có vài cụm, câu đã ghi trong bài Chuyện về cái giận chưa rõ, nay chia sẻ
trên báo giấy mới đọc kỹ lại và phát hiện ra, chỉnh lại. Bản này là bản đã chỉnh.
Hai là, trên Vô Ưu, BBS thích để bài này dưới mục gọi là Hồi ký, có vẻ không ổn
lắm. Mục này gọi là Tùy bút thì phù hợp hơn. Không biết tâm lý người đọc hiện
nay thích đọc Hồi ký hơn là Tùy bút, Tản văn không? Hồi ký nghe có vẻ thật và gợi
tò mò? Tùy bút, Tản văn có vẻ hư cấu và tự chia sẻ tâm tình? Thực ra, cả hai đều
là cách người viết mượn để chia sẻ những điều mình muốn nói qua kinh nghiệm sống
thực của người viết mà thôi.
Cái giận
Thời
còn học phổ thông, tôi được đưa về ở với ngoại một năm. Sau này mỗi lần tôi gặp
lại các dì và cậu, điều mà các dì và cậu tôi hay nhắc về tôi nhất chính là cái…
tính nóng. Qua lời kể của dì, tính nóng của tôi thể hiện thường xuyên, nhất là những
lúc chơi giỡn với bọn trẻ hoặc khi bị ông bà ngoại bảo làm một điều gì đó mà
tôi không thích. Vì thế mà chuyện gây gổ và choảng nhau với bọn trẻ trong xóm
là chuyện thường như cơm bữa. Còn cái tật làm ẩu cho ‘biết mặt’ của tôi mỗi khi
bị ép buộc phải làm một điều gì bất đắc dĩ, thì các dì và cậu của tôi đều ngán.
31.7.14
Thật cả trong mơ
Đây là những dòng chữ tùy duyên gõ lại từ năm 2010. Cứ đến ngày kỷ niệm Hòa Thượng Minh Châu thì tôi nhớ và đem ra đọc lại.
Năm nay, sắp đến ngày kỷ niệm 2 năm Hòa Thượng viên tịch, tôi lại gặp nhiều duyên làm tôi nhớ đến Ngài. Nhớ đến Ngài là tôi nhớ đến một số việc cần làm mà tôi đã tự đặt ra cho mình ngay sau đêm tôi mơ thấy Ngài, 14 tháng Giêng năm Canh Dần. Chia sẻ mấy dòng chữ này ở đây, tôi mong cầu được Ngài gia hộ để tôi đủ duyên làm được những điều mà tôi đã tự dặn mình về một bậc thầy khả kính.
*
* *
Vừa tỉnh giấc dậy, hình ảnh của Hòa thường vẫn còn hiện rõ
trong trí nhớ tôi. Hiền từ trên gương mặt nhưng vóc dáng có vẻ quắc thước. Phải
chi tôi là họa sĩ, tôi sẽ vẽ ngay chân dung Hòa thường như tôi vừa gặp. Nhưng
vì tôi không phải là họa sĩ, nên hình ảnh của Hòa thượng lại cứ hiện lên hiện
lên như thể nhắc tôi phải vẽ.
17.4.14
Một lần tìm Phật
Xin cáo lỗi: Bài viết này đã được lấy xuống. Sẽ giới thiệu lại cùng các bạn vào một dịp phù hợp. Cảm ơn bạn đã ghé qua đây và hẹn gặp lại.
27.1.14
Rộn trong lễ nghi
Tết đến, cùng với cái rộn ràng tất niên là cảnh rộn ràng trong nghi lễ của mọi người. Tôi đã chọn ở góc núi vậy mà cảnh lễ nghi cũng rộn lên. Kẻ đến người đi. Chào chào nói nói. Người mang theo bó bông. Người mang theo túi quả. Rồi bánh tét, dầu ăn, đường, muối, mức gừng... Tôi đã quyết năm nay không ăn tết dềnh dang mà hương vị tết cứ nức lên. Quê mình là vậy. Rất đẹp và rất thương. Thân tình lắm, các bác các anh chị mới chịu khó ra đến góc núi lạnh này. Tôi quý tấm lòng bằng hữu của các bác và các anh chị.
Nhưng nhìn vật phẩm anh chị mang đến, nghi thức chào hỏi của anh chị, tôi không khỏi suy nghĩ về chuyện nghi lễ của quê mình. Chuyện này thì có người đã bàn.
Theo bác Vương Trí Nhàn, “cách chúng ta tổ chức hiện nay, thì ở đó có bao nhiêu cổ hủ, bao nhiêu đắp điếm giả tạo, và ngày tết không khỏi trở thành là một dịp phô bầy ra cái sự lạc hậu trong nếp sống nếp nghĩ đã từng ngự trị trong quá khứ, và ngày nay còn để lại nhiều di lụy.” Bác tỏ ra lo lắng khi thấy “nhịp điệu uể oải chậm chạp của một xã hội u tối” trong kiểu ăn chơi ngày tết của đông đảo quần chúng. Đó là một góc nhìn trong các góc nhìn, chỉ phản ánh một phần nào đó trong toàn bức tranh xã hội thôi.
Thực chất, việc thăm và chúc tết của các anh chị giúp tôi thấm hơn nghĩa sum họp và tri ân của ngày tết và trân trọng hơn tình bằng hữu. Tuy nhiên, tôi nghĩ chính nghi lễ ấy vẫn còn dấu hiệu và dáng dấp dềnh dang không nên có.
[...]
Tôi đang ghi lại mấy lời bàn về nghi lễ của những người quan tâm đến hiện trạng nghi lễ hiện nay thì lại có khách đến. Đặt 2 ly cà phê đen lên sàn gỗ, khách mời và chỉ túi đường nhỏ, nếu thích thì thêm vào. Cái đơn sơ của vị khách hiện là một cán bộ uy tín cấp tỉnh làm tôi thích thú.
Tôi chợt nhớ đến chia sẻ của bác Cao Huy Thuần ba năm về trước. Bác bảo, “tôi sợ lễ nghi, cung cách. Lễ nghi lắm khi giết chết lễ nghi.” Sợ nhưng tránh đâu được. Bác phải luận: bản chất đơn sơ của mọi sự vật, đơn sơ đến độ như không vướng mắc vào bất cứ một cái gì, như không có gì, như chỉ duy nhất tầm thường có thế thôi là cao hơn cả. Từ chỗ cái đơn sơ đó, bác phán rằng, đơn sơ là tinh tuý của nghi lễ. Không dừng lại ở đó, bác lại phán tiếp: Đơn sơ là tinh túy của thiền.
Đến đây, tôi thấy bàn về nghi lễ như vậy thì hơi chăm. Tôi nhẫm nôm na, như vậy, chỗ gặp nhau giữa thiền và nghi lễ là đơn sơ. Và tất nhiên, đơn sơ đó phải đến độ như “không vướng mắc vào bất cứ một cái gì.”
Thế thì, phải chăng để tránh tình trạng “Lễ nghi giết chết lễ nghi” thì phải “không vướng mắc vào bất cứ một cái gì.” Và phải chăng với thiền cũng thế?
Nhưng nhìn vật phẩm anh chị mang đến, nghi thức chào hỏi của anh chị, tôi không khỏi suy nghĩ về chuyện nghi lễ của quê mình. Chuyện này thì có người đã bàn.
Theo bác Vương Trí Nhàn, “cách chúng ta tổ chức hiện nay, thì ở đó có bao nhiêu cổ hủ, bao nhiêu đắp điếm giả tạo, và ngày tết không khỏi trở thành là một dịp phô bầy ra cái sự lạc hậu trong nếp sống nếp nghĩ đã từng ngự trị trong quá khứ, và ngày nay còn để lại nhiều di lụy.” Bác tỏ ra lo lắng khi thấy “nhịp điệu uể oải chậm chạp của một xã hội u tối” trong kiểu ăn chơi ngày tết của đông đảo quần chúng. Đó là một góc nhìn trong các góc nhìn, chỉ phản ánh một phần nào đó trong toàn bức tranh xã hội thôi.
Thực chất, việc thăm và chúc tết của các anh chị giúp tôi thấm hơn nghĩa sum họp và tri ân của ngày tết và trân trọng hơn tình bằng hữu. Tuy nhiên, tôi nghĩ chính nghi lễ ấy vẫn còn dấu hiệu và dáng dấp dềnh dang không nên có.
[...]
Tôi đang ghi lại mấy lời bàn về nghi lễ của những người quan tâm đến hiện trạng nghi lễ hiện nay thì lại có khách đến. Đặt 2 ly cà phê đen lên sàn gỗ, khách mời và chỉ túi đường nhỏ, nếu thích thì thêm vào. Cái đơn sơ của vị khách hiện là một cán bộ uy tín cấp tỉnh làm tôi thích thú.
![]() |
vẻ đẹp đơn sơ
Bên tách cà phê với khách tại cốc Phương Thảo, chiều 27 tháng Chạp.
|
Đến đây, tôi thấy bàn về nghi lễ như vậy thì hơi chăm. Tôi nhẫm nôm na, như vậy, chỗ gặp nhau giữa thiền và nghi lễ là đơn sơ. Và tất nhiên, đơn sơ đó phải đến độ như “không vướng mắc vào bất cứ một cái gì.”
Thế thì, phải chăng để tránh tình trạng “Lễ nghi giết chết lễ nghi” thì phải “không vướng mắc vào bất cứ một cái gì.” Và phải chăng với thiền cũng thế?
Bình yên nơi miền tĩnh lặng
Mỗi dịp xuân về là mỗi dịp nỗi nhớ thầy càng thắm hơn. Hai vị
thầy mà tôi nhớ nhất là Trưởng lão Giác Dũng và Trưởng lão Giác Đăng. Điểm
chung của hai vị là hiện thân của sự bình yên, một nguồn bình yên miên viễn. Xuân
này, hai vị đã đi về miền tịch tĩnh lặng yên, nỗi nhớ đã thắm giờ thêm thấm. Thắm
và thấm hơn khi nguồn bình an trong tâm thức của thầy không còn giới hạn trong
sắc thân của thầy, khi bình an đã trở thành một nguồn năng lượng lan toả và thấm
nhuần khắp những nơi thầy đã ở đã đến.
Tôi liên tưởng đến một ý pháp trong triết lý Phật giáo rằng,
nếu thấy và nghe sự tồn tại của một nhân cách đã hoàn toàn giác ngộ giải thoát
qua hình sắc và âm thanh thì cái thấy nghe đó chưa chuẩn. Người thấy nghe như
thế không thể tiếp cận được với nhân cách đã giác ngộ giải thoát được.
Ý pháp ấy như một lời nhắc giúp tôi cất đi những ký ức về hình
tướng của thầy để dễ dàng cảm nhận nguồn năng lượng toả ra từ thầy đang tĩnh ngự
nơi đây.
Nhớ lời Trưởng lão Giác Dũng dạy, “tự nhiên tâm mình vốn là
tịnh, tức là tâm mình vốn tịnh. Nhưng bên ngoài làm mình động, không an.” Thanh
tịnh, bình an tự nhiên ai cũng có. Người ta khác nhau ở chỗ có nhận ra và biết
giữ gìn sự bình an trong sáng cho mình hay không.
Trưởng lão Giác Đăng cũng thường dạy như vậy. Thường khi ngồi
với thầy nhìn hàng dừa phía trước chính điện tịnh xá, Thầy hay nói triết lý nôm
na thế này. “Trò thấy bình an ai cũng có, nhưng người biết nhận ra sự bình an
đã có của mình thì ít. Phần đa, giống như người có trái dừa trong tay, mà chẳng
biết làm sao lột vỏ, chẻ gáo để có nước dừa ngọt mà uống, có cơm dừa ngon mà
ăn.”
Bình an mình có mà mình không nhận ra thì làm sao sống bình
an được. Bình an không phải tìm đâu xa. Bình an ở nơi
miền tĩnh lặng.
26.1.14
Thương và tin mình hơn
Đây là bài viết ngắn về thương và tin nhân đọc 2 bài viết
trên trang Thiền Quang (do tôi lập ra và giao cho anh Duy Thịnh làm sau đó). Sau khi viết mấy dòng này, tôi thấy cần lưu và chia sẻ những gì mình viết trên trang blog của mình. Trang này tôi lập ra sau lần gặp Đức Dalai Lama tại Pune trong một dịp đặc biệt, và tôi thấy cần chia sẻ những điều hay và đáng ghi nhớ trong những dịp như thế với người thân của mình. Tuy nhiên, sau đó, tôi phải tập trung cho chương trình học của mình, không viết và chia sẻ gì trên blog được. Tiếp sau đó nữa là bao việc kéo theo tiêu tốn hết quỹ thời gian của mình. Mãi cho đến hôm nay, tạm yên nghỉ nơi góc núi này, tôi mới có thể trở lại với blog này đây. Hy vọng sự bình yên nơi đây sẽ cho phép tôi ngồi gõ lại những dòng tạp ghi nhưng với nhiều điều hay với người thân của mình.
Sau khi đăng 64 mục bài đầu tiên trên trang Thiền Quang, tôi
tạm ngưng để kiểm tra và khắc phục các lỗi cần sửa và bổ sung những thông tin cần
thiết trước khi giao cho người khác phụ trách.
Sau 30 ngày giới thiệu trang thông tin này cho một số bạn để
chia sẻ và mong các bạn đóng góp ý tưởng và bài viết để cùng chung xây dựng
trang Thiền Quang như một ngôi nhà chung, số lượt đọc bài là 2464 và số
follower là 2. Con số này quá khiêm tốn, nhưng số lượt đọc đó đã thể hiện sự ủng
hộ đáng trân trọng của các bạn.
Có một điều khá thú vị là, trong số 2464 lượt đọc đó, có 2
bài số lượt đọc là 0. Đó là bài Tình
thương: Bài tập thiết yếu của Nữ Thiền Sư Pema Chodron và bài Câu
chuyện của niềm tin của Ts. Giáp văn Dương (Nguồn: Tia sáng, TQ đăng lại). Chợt
một câu hỏi nhỏ thoáng qua “tại sao 2 tiêu đề này không được đoái hoài tới?”
Tôi không dám nghĩ đến tình trạng Tình thương và Niềm tin mất
chỗ đứng trong lòng người hiện nay. Tôi nghĩ có thể Tình thương và Niềm tin là
2 yếu tố không thể thiếu trong một người nếu người đó cần tồn tại và phát triển.
Sự có mặt của Tình thương và Niềm tin trong lòng người là điều tất yếu, nên việc
bàn về hai phẩm chất này là không cần thiết nữa chăng?
Thế là đọc lại những điều Nữ Thiền Sư Pema Chodron và Ts.
Giáp văn Dương đã trở thành cái duyên để tôi biết thương và tin mình hơn.
Pema Chodron thì nhấn mạnh rằng yêu thương chính mình và đối
cư xử chân thành với chính mình là điều mà chúng ta ai cũng cần. Điều này được
minh hoạ bằng một hình ảnh rất dễ thương: chim mẹ luôn chở che và chăm sóc cho
những chú chim non của mình cho đến khi chúng đủ mạnh để có thể bay xa. “Chúng
ta là ai trong hình ảnh này, thưa các bạn – chim mẹ hay chú chim non?”
Giáp văn Dương thì chia sẻ niềm tin mà anh có được và đặt vào
các cá nhân và xã hội có hệ thống chăm sóc những cá nhân đó. Anh vui khi ngộ
ra rằng người ta “giàu mạnh vì họ tin ở con người.” Nhìn người rồi ngẫm lại ta.
Anh tự hỏi: Phải chăng đang có một cuộc “khủng hoảng niềm tin” ở đây? Và anh thắc
mắc khi nào thì người ta không tin nhau? Anh lo lắng “khi niềm tin giữa người với
người đã trở nên cạn kiệt.”
Cuối cùng, anh dẫn ý của nhiều người và khẳng định rằng, cá
nhân và xã hội, muốn phát triển nhất thiết phải cần có niềm tin.
Đến đây, tôi cảm thấy tri ơn Pema Chodron và Giáp văn Dương
đã chia sẻ và các bạn đã cho tôi cái duyên để nhìn lại, để thương và tin mình
hơn. Và khi chúng ta biết thương và tin mình hơn, như Pema Chodron nói, chúng
ta đã mở được chìa khoá để thương và tin mọi người hơn.
Giác Kiến
10.10.10
Bình an
Bình an là đề tài buổi nói chuyện của Đức Dalai Lama hôm nay, ngày 10 tháng 10 năm 2010. Một sự kiện đặc biệt trong một thời khắc đặc biệt. Tôi hân hạnh có mặt trong sự kiện này. Vào lúc 10 giờ 10 phút ngày 10 tháng 10 năm 2010, Đức Dalai Lama cùng với nhiều nhân vật quan trọng và hơn 50 ngàn người có một phút tĩnh lặng cầu nguyện cho hòa bình thế giới.
Subscribe to:
Posts (Atom)
.jpg)